Quay lại Mua nhà bằng con số

Hộ 30 triệu nên chọn vay thương mại hay nhà ở xã hội?

Mua nhà bằng con sốChương 04 · Lựa chọn6 phút đọc

Câu trả lời ngắn

Với hộ giả lập trong bài, hai phương án cho hai tầm giá và hai khoản trả rất khác nhau: khoảng 1,47 tỷ và 11 triệu mỗi tháng khi vay thương mại giả định 8,5%/năm, so với khoảng 1,09 tỷ và khoảng 5,3 triệu khi vay mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội.

Tầm giá cao hơn nghe hấp dẫn hơn, nhưng ở phương án thương mại nó đến từ việc dồn cả 11 triệu còn lại vào khoản trả — khoảng 36,7% thu nhập thực nhận, không còn chỗ cho phí quản lý hay một tháng thu nhập hụt.

Vì vậy nên xem cả hai: khoản trả so với ngân sách, và tầm giá so với những căn bạn thật sự tìm được. Trong ví dụ này, phép so khoản trả nghiêng về phương án nhà ở xã hội; còn phương án đó có dùng được không phụ thuộc vào điều kiện, suất mua và khoản vay thực tế — những điều bài không kiểm chứng.

Muốn thử ngay với số của bạn?

Ảnh minh họa AI: một người phụ nữ và một người đàn ông ngồi bên bàn gỗ, mỗi người cầm một tập hồ sơ màu khác nhau và cân nhắc
Ảnh minh họa AI

Hai phương án giả lập trong bài

Hộ
Thực nhận 30.000.000 ₫/tháng, hai vợ chồng
Ngân sách cho chỗ ở
11.000.000 ₫/tháng
Tiền dùng được
250.000.000 ₫
Phương án A — thương mại
8,5%/năm, 240 tháng, mô hình không đặt trần vay
Phương án B — nhà ở xã hội
Ngân hàng Chính sách xã hội, 5,4%/năm, 300 tháng, vay tối đa 80%

Hai phương án giả lập trên cùng một hộ giả lập, không phải báo giá của ngân hàng nào. Mức 8,5% là con số tròn để so, và ngân hàng thương mại thật có tỷ lệ cho vay tối đa riêng. Mức 5,4% và mức vay tối đa 80% là điều kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội theo Nghị định 261/2025/NĐ-CP, tra lại ngày 24/09/2026; 80% là trần, không phải mức được bảo đảm.

Hai chương trình chặn ở hai chỗ khác nhau

Đường thương mại bị chặn bởi khoản trả hằng tháng: 11 triệu là toàn bộ phần còn lại sau sinh hoạt, nợ và tiền để dành, và tầm giá 1,47 tỷ là mức mà 11 triệu gánh được.

Đường ưu đãi bị chặn bởi tiền tự có, vì trần vay 80% buộc hộ phải có ít nhất 20% cộng chi phí mua ngoài giá. 250 triệu chia 0,23 ra tầm giá khoảng 1,09 tỷ.

Biết giới hạn nào đang chặn quyết định việc gì có ích. Ở phương án A, tích lũy thêm vẫn nâng tầm giá dù khoản vay bị giới hạn bởi ngân sách hằng tháng. Ở phương án B, mỗi 23 đồng tiền tự có mở ra 100 đồng tầm giá, nhưng chỉ khi tiền tự có vẫn là giới hạn chính và các giả định khác giữ nguyên.

Khoản trả là phép so quan trọng hơn tầm giá

Ở phương án A, khoản gốc và lãi chiếm 36,7% thu nhập thực nhận và dùng hết ngân sách chỗ ở. Ở phương án B, phần đó là 17,6% và còn lại hơn 5,7 triệu mỗi tháng chưa dùng đến.

Khoảng dư đó không phải tiện nghi. Nó là chỗ cho phí quản lý, tiền gửi xe, một đợt sửa chữa, và một tháng thu nhập gián đoạn — những thứ không biến mất chỉ vì phép tính tầm giá không có ô cho chúng.

Một hộ dùng hết ngân sách chỗ ở cho khoản trả đang đặt cược rằng thu nhập không gián đoạn trong 20 năm. Đó là một giả định, không phải một con số.

Tầm giá cao hơn chỉ có ích nếu có nhà phù hợp trong tầm đó

Bài này không có dữ liệu về giá hay nguồn cung nhà ở. Nên phần 386.382.544 ₫ tầm giá cao hơn của phương án A chưa chắc mua được một căn tốt hơn; điều đó chỉ trả lời được bằng giá của những căn cụ thể ở khu bạn muốn.

Hai khoản trả ở trên được tính cho hai mức giá nhà khác nhau. Muốn so chi phí vay cho cùng một căn, hãy tính lại hai phương án với cùng giá căn nhà và tiền tự có. Nếu phương án B không có căn phù hợp, tầm giá thấp hơn của nó cũng không giúp được gì.

Vì vậy hãy kiểm tra riêng: ở khu vực bạn muốn ở có dự án nhà ở xã hội nào đang nhận hồ sơ, còn suất hay không, và hộ có đủ điều kiện không. Những điều đó không phải một phép tính.

Phương án thứ ba là chưa mua, và nó cũng là một lựa chọn hợp lệ

Hai phương án trên đều dẫn đến việc mua trong năm nay. Phương án thứ ba là tiếp tục thuê và tích lũy thêm trong lúc kiểm tra điều kiện và tìm căn phù hợp.

Với hộ này, tích lũy thêm có tác dụng ở cả hai đường. Theo mô hình thương mại với chi phí mua giả định 3%, thêm 100 triệu tiền dùng được nâng tầm giá khoảng 97 triệu, trong khi khoản vay giữ nguyên. Ở đường ưu đãi, mỗi 23 đồng thêm vào mở ra 100 đồng tầm giá khi tiền tự có còn là giới hạn chính; tăng đủ tiền rồi thì khoản trả hằng tháng có thể trở thành giới hạn tiếp theo.

Điều cần so khi cân phương án thứ ba là tiền thuê hiện tại so với tổng chi phí sở hữu, không phải tiền thuê so với khoản trả nợ. Bài “Tiếp tục thuê hay mua nhà” trong bộ này đi qua phép so đó.

Phương án phù hợp tùy vào hộ bạn. Ba phương án có ba giới hạn khác nhau, và biết giới hạn nào đang chặn mình là việc làm được trước khi quyết định.

Biểu đồ này cho thấy gì

Ba thanh, và chúng không cộng vào nhau. Thanh trên là tầm giá 1.086.956.522 ₫ của phương án B, chia thành phần tiền của bạn và phần tiền vay theo tỷ lệ 20/80 — 80% là mức vay tối đa, không phải mức chắc chắn được vay. Thanh giữa là chi phí mua ngoài giá. Thanh dưới là khoản vay mà ngân sách 11 triệu mỗi tháng gánh được, và nó CAO HƠN khoản vay thực dùng — dấu hiệu tiền tự có đang chặn, không phải khoản trả. Hình vẽ phương án B; con số của phương án A nằm trong phần chữ, vì hai phương án có hai bộ giả định khác nhau.

Tầm giá của hộ 30 triệu theo chương trình ưu đãi

Tầm giá 1,1 tỷ gồm 217,4 triệu tiền của bạn và 869,6 triệu tiền vay, theo lãi suất, kỳ hạn, chi phí mua và tỷ lệ vay bạn đang giả định. Hãy xem giới hạn đang chặn trước khi thay một giả định; đây không phải mức ngân hàng đã duyệt. Đang bị chặn bởi tiền tự có: khoản trả của bạn còn gánh được khoản vay lớn hơn.

  • Tầm giá nhà1.086.956.522 ₫
  • Tiền không vào giá nhà32.608.696 ₫
  • Khoản vay bạn gánh được1.808.824.017 ₫
  • Số tiền (tỷ)

Ký hiệu

  • Tiền của bạn
  • Tiền vay
  • Chi phí mua ngoài giá
  • Chưa dùng được vì thiếu tiền tự có

Biểu đồ này giả định

  • Lãi suất giữ nguyên suốt kỳ hạn. Hãy nhập mức lãi sau ưu đãi, không phải mức ưu đãi năm đầu.
  • Phần vay được là GIẢ ĐỊNH bạn nhập. Ngân hàng còn xét giá thẩm định và hồ sơ của bạn, nên hãy hỏi rồi nhập lại con số thật.
  • Đây là mức để bắt đầu đi xem nhà, không phải mức ngân hàng đã đồng ý.
Xem số liệu dạng bảng

Số tiền: triệu đồngSố tiền: đồng

Bảng số đầy đủ cuộn ngang trong khung này.

Cấu phần của tầm giá
KhoảnSố tiền
Tầm giá nhà — Tiền của bạn217,4217.391.304
Tầm giá nhà — Tiền vay869,6869.565.217
Tầm giá nhà1.087,01.086.956.522
Tiền không vào giá nhà — Chi phí mua ngoài giá32,632.608.696
Tiền không vào giá nhà — Còn lại chưa dùng< 0,10
Tiền không vào giá nhà32,632.608.696
Khoản vay bạn gánh được — Đang dùng869,6869.565.217
Khoản vay bạn gánh được — Chưa dùng được vì thiếu tiền tự có939,3939.258.800
Khoản vay bạn gánh được1.808,81.808.824.017

Thử với số của bạn

Chạy cùng một hộ qua hai công cụ, rồi so hai cặp số: khoản trả so với ngân sách, và tầm giá so với nhà đang có ở khu bạn muốn.

  1. Mở công cụ Khả năng mua nhà, nhập số của hộ bạn ở chế độ “Hộ của tôi trả được bao nhiêu mỗi tháng?”. Ghi lại “Tầm giá nhà” và “Khoản trả của số tiền vay ở trên”.
  2. Mở công cụ Mua nhà ở xã hội và nhập đúng những con số đó. Ghi lại hai dòng đó lần thứ hai.
  3. Chia mỗi khoản gốc và lãi cho thu nhập thực nhận của hộ bạn. Hai tỷ lệ đó là phép so đầu tiên.
  4. Với mỗi tầm giá, tìm thử vài căn thật trong tầm đó ở khu vực bạn muốn. Đó là phép so thứ hai.
  5. Đọc dòng “Điều đang chặn tầm giá” ở cả hai lần chạy — hai phương án thường bị chặn bởi hai thứ khác nhau.
Mở công cụ Mua nhà ở xã hội

Thử đổi một thứ: Ở công cụ Mua nhà ở xã hội, đổi “Tiền tích lũy đang có” thêm 100 triệu. Ghi lại tầm giá thay đổi bao nhiêu, rồi làm điều tương tự ở công cụ Khả năng mua nhà. Cùng một khoản tiền có tác dụng rất khác nhau ở hai phương án.

Tự kiểm tra: Khoản gốc và lãi của phương án bạn nghiêng về chiếm bao nhiêu phần trăm thu nhập thực nhận? Sau khi trừ nó, phần còn lại có đủ cho phí quản lý và một tháng thu nhập hụt không?

Việc cần kiểm tra trước khi chọn phương án

  • Bạn có đủ điều kiện mua nhà ở xã hội hay không. Thu nhập là phần duy nhất tính được; đối tượng, nhà ở, việc đã hưởng hỗ trợ và hồ sơ cần cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
  • Ở khu vực bạn muốn ở có dự án nhà ở xã hội nào, và còn suất hay không.
  • Ngân hàng nào duyệt cho bạn vay, và duyệt bao nhiêu.
  • Chất lượng, vị trí và pháp lý của từng căn nhà — không phép tính nào so được những thứ đó.
  • Lãi suất thương mại thật bạn được báo. Mức 8,5% trong bài là con số tròn để so.

Nguồn tham khảo

Nguồn dưới đây dùng cho các con số quy định của phương án B: lãi suất, trần cho vay và thời hạn tối đa.

Về nội dung này

Bài giáo dục của FinHome, soạn với hỗ trợ AI. Hai phương án chạy trên cùng một hộ giả lập và mọi con số do mô hình của công cụ tính. Bài không dùng dữ liệu về giá hay nguồn cung nhà ở. Bài chưa được chuyên gia độc lập thẩm định và không thay thế tư vấn cho hồ sơ cụ thể.

Bài thuộc nhóm Chọn phương án tài chính — Đặt các lựa chọn cạnh nhau: thuê hay mua, hai gói vay, lãi cố định hay thả nổi để thấy điều phải đánh đổi.

Đọc tiếp

Xem cả chương 04 · Lựa chọn