Vốn hưu trí tiêu được bao nhiêu mỗi năm

Câu hỏi ngược của một kế hoạch hưu trí: với số vốn bạn sẽ có, mỗi năm tiêu được bao nhiêu? Con số chính được tính theo giá hôm nay, vì đó là đơn vị duy nhất bạn so được với chi phí sinh hoạt hiện tại.

Vì sao có ba mức chi chứ không phải một

Mức chi là một lựa chọn, không phải một con số duy nhất, nên trang này vẽ con số chính cạnh hai nhánh khác: mức bạn mong muốn, và cùng mức đó nếu bạn sống lâu hơn dự tính. Khoảng cách giữa ba nhánh cho biết kế hoạch chịu được bao nhiêu sai số.

Mức chi này không phải một tỷ lệ rút an toàn vĩnh viễn: nó được tính sao cho vốn vừa hết đúng ở tuổi bạn nhập vào ô “dự phóng đến tuổi”, mặc định là 85.

Sống lâu hơn mốc đó thì con số đổi bao nhiêu?

Nếu bạn dự phóng đến 90, cùng số vốn đó chỉ nuôi được 156.077.672 ₫/năm lấy từ danh mục thay vì 183.057.403 ₫, tức thấp hơn 14,7%. Nhiều người sống lâu hơn mức kỳ vọng sống trung bình, nên hãy nhập tuổi cao hơn mốc bạn nghĩ là vừa đủ rồi đọc kết quả, thay vì đọc kết quả ở mốc vừa đủ rồi tự trừ đi một biên an toàn.

Các mốc tuổi

Tuổi của bạn bây giờ. Kế hoạch được tính từ tuổi này.

Tuổi bạn dự định ngừng để dành và bắt đầu rút tiền ra chi tiêu. Đây là mốc do bạn chọn, không phải tuổi nghỉ hưu theo luật. Năm cuối còn để dành là năm trước tuổi này.

Bạn muốn tiền đủ chi tiêu đến bao nhiêu tuổi? Ví dụ, chọn 85 nghĩa là kế hoạch tính chi tiêu cho các năm từ lúc nghỉ hưu đến khi bạn tròn 85 tuổi; năm 85 tuổi trở đi không nằm trong kế hoạch. Nên chọn cao hơn mức bạn nghĩ là vừa đủ, để kế hoạch vẫn vững nếu bạn sống lâu hơn dự tính.

Tích lũy

Tổng những khoản bạn đã để riêng cho hưu trí — tiền gửi, quỹ, chứng khoán. Ví dụ, 300 triệu tiền gửi và 200 triệu chứng khoán là 500 triệu. Không tính tiền dự phòng cho việc gấp.

Cộng tất cả số tiền bạn dự định để dành cho hưu trí trong một năm. Ví dụ, để dành 5 triệu mỗi tháng tương đương 60 triệu mỗi năm. Mô hình cộng khoản này một lần vào đầu mỗi năm.

Bạn dự định tăng số tiền để dành bao nhiêu mỗi năm? Ví dụ, năm nay để dành 60 triệu, tăng 5% thì năm sau là 63 triệu. Nếu muốn giữ nguyên khoản để dành mỗi năm, nhập 0.

Chi tiêu khi nghỉ hưu

Tiền bạn dự kiến nhận đều mỗi năm sau khi nghỉ mà không phải rút từ khoản dành dụm: lương hưu, tiền cho thuê, việc làm thêm. Ví dụ, lương hưu 3 triệu mỗi tháng là 36 triệu mỗi năm. Cũng nhập theo giá hôm nay.

Giả định lợi suất và lạm phát

Mức sinh lời bạn giả định cho khoản tiền dành dụm, tính theo năm và chưa trừ lạm phát. Ví dụ 8% nghĩa là 100 triệu có thể thành 108 triệu sau một năm, trước thuế và phí, và chỉ khi giả định đó đạt được. Đây là ví dụ cách nhập, không phải mức sinh lời được bảo đảm.

Mức sinh lời bạn giả định sau khi nghỉ. Nhiều người đặt thấp hơn mức trước khi nghỉ, vì lúc đó thường chuyển sang các khoản ít biến động hơn. Ví dụ 5%. Cũng là con số bạn tự giả định.

Giá cả tăng bao nhiêu mỗi năm theo giả định của bạn. Ví dụ 4% nghĩa là món hàng 100.000 đồng hôm nay sẽ khoảng 104.000 đồng sau một năm. Công cụ dùng con số này để tính chi tiêu của từng năm và quy mọi số dư về giá hôm nay.

Kết quả tự cập nhật ngay khi bạn thay đổi số — nút này chỉ đưa bạn tới kết quả.

Mức chi giữ được đến hết kỳ

Cùng mức đó tính theo tháng18.254.784 ₫
Chi được mỗi năm, theo giá hôm nay219.057.403 ₫
Trong đó lấy từ danh mục, mỗi năm183.057.403 ₫
Thiếu so với mức mong muốn, mỗi năm20.942.597 ₫

Ba nhánh của cùng một số vốn

Mức mong muốn, kỳ đến tuổi 85 — thiếu 3 nămVốn cạn ở tuổi 82.
Mức giữ được, kỳ đến tuổi 85 — đủ cả kỳVốn không cạn trong kỳ dự phóng.
Mức mong muốn nếu sống đến tuổi 90 — thiếu 8 nămVốn cạn ở tuổi 82.

Mức chi giữ được thấp hơn mức mong muốn của kế hoạch, nên ở mức mong muốn vốn sẽ cạn trước khi hết kỳ dự phóng. Đó là khoảng cách trang “Thiếu bao nhiêu” định giá bằng ba cách bù: dành thêm mỗi năm, nghỉ muộn hơn, hoặc hạ mức chi xuống đúng con số hiển thị ở trên.

Ba nhánh của cùng một số vốn

Kế hoạch mong muốn chi 240.000.000 ₫ mỗi năm; số vốn này giữ được 219.057.403 ₫ mỗi năm cho đến hết kỳ dự phóng. Ở mức mong muốn, vốn cạn ở tuổi 82. Ba nhánh là ba lựa chọn trên cùng một số vốn và cùng một bộ giả định, không phải ba dự báo về tương lai.

  • Vốn còn lại (tỷ)
  • Năm kể từ ngày nghỉ

Ký hiệu

  • Mức mong muốn, kỳ đến tuổi 85 — thiếu 3 năm
  • Mức giữ được, kỳ đến tuổi 85 — đủ cả kỳ
  • Mức mong muốn nếu sống đến tuổi 90 — thiếu 8 năm

Các mốc trên biểu đồ

  • Mức mong muốn, kỳ đến tuổi 85 — thiếu 3 năm: vốn cạn ở tuổi 82, năm thứ 22
  • Mức mong muốn nếu sống đến tuổi 90 — thiếu 8 năm: vốn cạn ở tuổi 82, năm thứ 22

Biểu đồ này giả định

  • Trục ngang tính từ ngày nghỉ, không phải từ hôm nay: năm thứ 0 là số vốn vừa đến ngày nghỉ, trước khi rút đồng nào.
  • Cả ba nhánh dùng chung giai đoạn tích lũy, nên chúng bắt đầu từ đúng một số vốn; chỉ mức chi và độ dài kỳ là khác.
  • Mọi đường vẽ theo giá hôm nay. Vẽ theo số danh nghĩa sẽ làm nhánh kéo dài hơn trông giàu hơn chỉ vì nó kết thúc muộn hơn.
  • Phép tính không trừ thuế và không trừ phí quản lý danh mục, và coi lợi suất là đều đặn mỗi năm.
Xem số liệu dạng bảng

Mỗi dòng là một nhánh, và mỗi nhánh có kỳ dự phóng riêng. Cột “Vốn còn lại” là phần vốn ở cuối kỳ của chính nhánh đó, theo giá hôm nay; nhánh đi hết kỳ thì cột “Cạn ở tuổi” ghi “không cạn” thay vì ghi một tuổi.

Số tiền: đồng

Ba nhánh và điểm kết của mỗi nhánh
NhánhCạn ở tuổiVốn còn lại
Mức mong muốn, kỳ đến tuổi 85 — thiếu 3 năm820
Mức giữ được, kỳ đến tuổi 85 — đủ cả kỳKhông cạn0
Mức mong muốn nếu sống đến tuổi 90 — thiếu 8 năm820

Mức chi đó gồm những gì

Thu nhập khác đã cộng vào, mỗi năm36.000.000 ₫
Mức chi mong muốn của kế hoạch, mỗi năm240.000.000 ₫
Đạt được bao nhiêu phần mức mong muốn91,3%

Mức chi mong muốn ở trên là giả định dùng chung của kế hoạch hưu trí, không phải một ô trên trang này: trang này giải ra mức chi giữ được, nên nó hỏi mọi thứ khác và không hỏi con số đó.

Số vốn và tỷ lệ rút

Vốn tại ngày nghỉ, theo giá hôm nay4.089.679.933 ₫
Vốn tại ngày nghỉ, danh nghĩa10.902.417.350 ₫
Tỷ lệ rút năm đầu của mức giữ được4,48%
Rút năm đầu ở mức giữ được, danh nghĩa488.001.075 ₫
Tổng rút cả kỳ ở mức giữ được, danh nghĩa20.323.248.005 ₫

Cách tính

Số vốn tại ngày nghỉ được lấy từ đúng phép dự phóng mà cả bốn trang của kế hoạch hưu trí dùng chung, rồi quy về giá hôm nay. Mức chi giữ được đến hết kỳ là mức chi đều theo giá hôm nay làm cạn đúng số vốn đó ở tuổi kết thúc — cộng thêm phần thu nhập khác, thứ không phụ thuộc vào số vốn.

Phép giải chạy trên lợi suất thực, tức (1 + lợi suất sau khi nghỉ) / (1 + lạm phát) − 1. Với 5% và 4%, lợi suất thực là 0,96%/năm chứ không phải 1%: hiệu của hai tỷ lệ chỉ là một phép gần đúng, và trên một kỳ hai mươi lăm năm nó đủ sai để lệch câu trả lời.

Hệ số dùng ở đây là một niên kim đầu kỳ, vì phép dự phóng lấy tiền ra vào đầu năm rồi mới tính lợi nhuận trên phần còn lại. Với lợi suất thực dương, công thức niên kim cuối kỳ cho ra mức chi cao hơn theo đúng tỷ lệ (1 + lợi suất thực): trên các giả định mặc định là 221.163.724 ₫/năm thay cho 219.057.403 ₫/năm, cao hơn 2.106.321 ₫. Đưa con số cao hơn đó trở lại phép dự phóng thì vốn cạn ở tuổi 84 và năm cuối còn 404.578.947 ₫ không được chi trả — một mức chi được báo là giữ được đến hết kỳ nhưng không giữ được.

Khoản rút được báo theo hai cách đếm cùng một khoản tiền. Ở mức chi giữ được, khoản rút danh nghĩa là 488.001.075 ₫ ở tuổi 60 và 1.250.895.188 ₫ ở tuổi 84, trong khi khoản rút theo giá hôm nay đứng yên ở 183.057.403 ₫ suốt cả kỳ. Đó không phải hai khoản tiền khác nhau, và chỉ con số thứ hai nói cho bạn biết mình mua được gì.

Phần thu nhập khác được cộng vào sau cùng và không nhân với hệ số niên kim nào, vì nó không lấy ra từ danh mục: lương hưu hay tiền cho thuê vẫn được trả bất kể danh mục còn hay đã hết. Đó cũng là lý do khi vốn bằng 0 thì kết quả bằng đúng phần thu nhập khác, chứ không bằng 0.

Con số theo tháng là mức chi cả năm chia cho 12, một cách nói lại cùng con số cho dễ so với chi phí sinh hoạt hôm nay — không phải một lệnh rút mỗi tháng. Mô hình lấy toàn bộ khoản chi của một năm vào đầu năm đó, nên với lợi suất dương, rút dần trong năm để lại nhiều vốn hơn một chút; ở lợi suất 0% hai cách bằng nhau.

Ba nhánh trên hình là ba lựa chọn trên cùng một số vốn, không phải ba dự báo. Ở mức mong muốn 240.000.000 ₫/năm, vốn cạn ở tuổi 82 — thiếu ba năm so với kỳ đến tuổi 85. Ở mức giữ được, mỗi năm chi ít hơn 20.942.597 ₫ và kế hoạch đi hết kỳ. Nhánh thứ ba giữ nguyên mức mong muốn nhưng kéo kỳ dự phóng thêm năm năm, và vốn vẫn cạn ở đúng tuổi 82: sống lâu hơn không làm tiền hết sớm hơn, nó chỉ làm số năm không được cấp vốn tăng từ ba lên tám. Vì thế hai mốc trên hình trùng tuổi nhau mà vẫn nói hai điều khác nhau, và mỗi mốc ghi rõ số năm nhánh đó để trống.

Một phép kiểm chứng: đưa chính mức chi giữ được trở lại phép dự phóng thì kế hoạch không cạn tiền và vốn cuối kỳ bằng 0; cộng thêm 1.000.000 ₫/năm thì nó cạn ở tuổi 84. Phép quay vòng đó cũng là lý do năm cuối kỳ đôi khi còn thiếu vài phần triệu của một đồng: một con số giải bằng công thức rồi đưa lại vào vòng lặp không rơi đúng lên gốc. Đó là sai số làm tròn của số thực, không phải một năm bị mất, nên công cụ chỉ bỏ qua phần thiếu ấy ở đúng năm cuối kỳ, chỉ khi nó không đáng kể so với nhu cầu của năm đó, và luôn ghi ra phần dư đã bỏ qua.

Câu hỏi thường gặp

Công cụ này chỉ mang tính minh họa: bốn trang của kế hoạch hưu trí dùng chung một bộ giả định do chính bạn nhập, và mô hình dùng hai mức lợi suất khác nhau — một trước khi nghỉ, một sau khi nghỉ — nên ở đây không có giả định nào về một mức lãi suất giữ nguyên suốt kỳ. Mọi số tiền tính bằng đồng Việt Nam. Phép tính không trừ thuế, không trừ phí quản lý danh mục, và coi lợi suất là đều đặn mỗi năm — điều mà thị trường không làm, nên rủi ro về thứ tự các năm được và mất không được mô phỏng. Kết quả không phải cam kết lợi nhuận và không phải lời khuyên đầu tư. Vui lòng cân nhắc kỹ hoặc tham khảo chuyên gia trước khi ra quyết định tài chính.